Hỏi đáp chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế (tiếp theo)

;
Thứ Sáu, 15/11/2019, 16:34 [GMT+7]

(QNO) - Hỏi: Theo quy định mới ban hành, giá trị sử dụng của thẻ BHYT được tính từ khi nào?

Trả lời: Vấn đề bạn đọc hỏi được quy định rõ tại Điều 13 Nghị định số 146/2018/NĐ-CP ngày 17.10.2018 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của Luật BHYT (có hiệu lực thi hành từ ngày 1.12.2018). Cụ thể:

1. Đối với đối tượng quy định tại Khoản 6 Điều 2, thẻ BHYT có giá trị sử dụng từ tháng đầu tiên hưởng trợ cấp thất nghiệp ghi trong quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp của cơ quan nhà nước cấp có thẩm quyền.

2. Đối với đối tượng quy định tại Khoản 7 Điều 3 nghị định này:

a) Trường hợp trẻ em sinh trước ngày 30.9: Thẻ BHYT có giá trị sử dụng đến hết ngày 30.9 của năm trẻ đủ 72 tháng tuổi;

b) Trường hợp trẻ sinh sau ngày 30.9: Thẻ BHYT có giá trị sử dụng đến hết ngày cuối của tháng trẻ đủ 72 tháng tuổi.

3. Đối với đối tượng quy định tại khoản 8 Điều 3 nghị định này, thẻ BHYT có giá trị sử dụng từ ngày được hưởng trợ cấp xã hội tại quyết định của UBND cấp huyện.

4. Đối với đối tượng quy định tại Khoản 9 Điều 3 (người nghèo, người dân tộc thiểu số…), đối tượng quy định tại Khoản 1 Điều 4 nghị định này (cận nghèo) mà được ngân sách nhà nước hỗ trợ 100% mức đóng BHYT, thẻ BHYT có giá trị sử dụng từ ngày được xác định tại quyết định phê duyệt danh sách của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

5. Đối với đối tượng quy định tại Khoản 10 Điều 3 nghị định này (người được phong tặng danh hiệu nghệ nhân nhân dân, nghệ nhân ưu tú thuộc hộ gia đình có mức thu nhập bình quân đầu người hằng tháng thấp hơn mức lương cơ sở theo quy định của Chính phủ), thẻ BHYT có giá trị sử dụng từ ngày được xác định tại quyết định phê duyệt danh sách của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

6. Đối với đối tượng quy định tại Khoản 14 Điều 3 nghị định này, thẻ BHYT có giá trị sử dụng ngay sau khi hiến bộ phận cơ thể.

7. Đối với đối tượng quy định tại Khoản 3 Điều 4 nghị định này:

a) Thẻ BHYT được cấp hằng năm cho học sinh (HS) của cơ sở giáo dục phổ thông, trong đó:

- Đối với HS lớp 1: Giá trị sử dụng bắt đầu từ ngày 1.10 năm đầu tiên của cấp tiểu học;

- Đối với HS lớp 12: Thẻ có giá trị sử dụng đến hết ngày 30.9 của năm đó.

b) Thẻ BHYT được cấp hằng năm cho HS, sinh viên (SV) của cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trong đó:

- Đối với HSSV năm thứ nhất của khóa học: Thẻ có giá trị sử dụng từ ngày nhập học, trừ trường hợp thẻ của HS lớp 12 đang còn giá trị sử dụng;

- Đối với HSSV năm cuối của khóa học: Thẻ có giá trị sử dụng đến ngày cuối của tháng kết thúc khóa học.

8. Đối với đối tượng khác, thẻ BHYT có giá trị sử dụng từ ngày người tham gia nộp tiền đóng BHYT. Trường hợp đối tượng quy định tại Khoản 4 Điều 4 (người thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình), Điều 5 (nhóm tham gia BHYT theo hộ gia đình) và Điều 6 nghị định này (nhóm do người sử dụng lao động đóng) tham gia BHYT lần đầu hoặc tham gia không liên tục từ 3 tháng trở lên trong năm tài chính thì thẻ BHYT có thời hạn sử dụng là 12 tháng kể từ ngày thẻ BHYT có giá trị sử dụng theo quy định tại Điểm c Khoản 3 Điều 16 của Luật BHYT.

9. Giá trị sử dụng của thẻ BHYT quy định tại điều này tương ứng số tiền đóng BHYT theo quy định, trừ đối tượng là trẻ em dưới 6 tuổi.

Hỏi: Theo quy định mới về điều chỉnh lương hưu đối với lao động nữ bắt đầu hưởng lương hưu trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2021, những người đã được hưởng lương hưu từ đầu năm 2018 có được điều chỉnh không?

Trả lời: Ngày 7.11.2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 153/2018/NĐ-CP quy định chính sách điều chỉnh lương hưu đối với lao động nữ bắt đầu hưởng lương hưu trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2021 có thời gian đóng BHXH từ đủ 20 năm đến 29 năm 6 tháng (nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 24.12.2018).

Điều 3 Nghị định 153 quy định:

1. Lao động nữ quy định tại Điều 2 nghị định này tùy thuộc vào thời gian đã đóng BHXH và thời điểm bắt đầu hưởng lương hưu, mức lương hưu được điều chỉnh bằng mức lương hưu tính theo quy định tại Khoản 2 Điều 56 hoặc Khoản 2 Điều 74 Luật BHXH năm 2014 cộng với mức điều chỉnh theo quy định tại Khoản 2 điều này.

2. Mức điều chỉnh được tính bằng mức lương hưu tính theo quy định tại Khoản 2 Điều 56 hoặc Khoản 2 Điều 74 Luật BHXH năm 2014 tại thời điểm bắt đầu hưởng lương hưu nhân với tỷ lệ điều chỉnh tương ứng với thời gian đã đóng BHXH và thời điểm bắt đầu hưởng lương hưu (theo quy định được nêu cụ thể tại nghị định này).

3. Mức lương hưu sau điều chỉnh theo quy định tại Khoản 1 điều này là căn cứ để tính điều chỉnh ở những lần điều chỉnh lương hưu theo quy định tại Điều 57 Luật BHXH.

Đối với lao động nữ quy định tại Điều 2 nghị định này bắt đầu hưởng lương hưu trong giai đoạn từ ngày 1.1.2018 đến ngày 30.6.2018 thì thực hiện điều chỉnh lương hưu theo quy định tại Khoản 1 điều này trước, sau đó thực hiện được điều chỉnh theo quy định tại Nghị định số 88/2018/NĐ-CPngày 15.6.2018 của Chính phủ về điều chỉnh lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng.

Theo quy định tại Điều 4 Nghị định 153/2018, thời điểm thực hiện điều chỉnh theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 nghị định này được tính từ tháng lao động nữ bắt đầu hưởng lương hưu.

Đối với lao động nữ bắt đầu hưởng lương hưu trong giai đoạn từ ngày 1.1.2018 đến trước ngày được nhận lương hưu mới theo quy định tại nghị định này, được truy lĩnh phần lương hưu chênh lệch tăng thêm giữa mức lương hưu trước và sau khi thực hiện điều chỉnh theo quy định tại nghị định này.

BẢO HIỂM XÃ HỘI TỈNH QUẢNG NAM

.
.
.
.
.